Bài 20 - SH11: Cảm ứng ở động vật (P1)

Full Transcript — Download SRT & Markdown

00:09
Speaker A
Chúng ta nghiên cứu bài về cảm ứng ở động vật.
00:15
Speaker A
Cái bài cảm ứng động vật này là một cái bài khởi đầu về cái phần cảm ứng ở các loài động vật. Động vật thì các em biết rằng là động vật bậc thấp và động vật bậc cao.
00:40
Speaker A
Động vật bậc thấp thì thấp nhất là động vật đơn bào, rồi đến đến động vật đa bào bậc thấp, rồi đến động vật đa bào bậc cao. Đấy, có rất nhiều cái cung bậc như vậy. Và trong quá trình tiến hóa như vậy thì tính cảm ứng của động vật nó được hoàn thiện dần.
00:55
Speaker A
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của động vật đó là cái tính cảm ứng ngày càng được hoàn thiện. Và chúng ta nghiên cứu về cái khái niệm về cái cảm ứng ở động vật. Đấy. Cái khái niệm tính cảm ứng động vật này thì ở động vật thì tính cảm ứng này là nó cảm này là cảm nhận. Cảm này là cái tiếp nhận kích thích. Cảm này là cảm nhận, tiếp nhận kích thích. Và ứng này là phản ứng của cơ thể.
02:07
Speaker A
Cho nên là tính cảm ứng của động vật chính là cái khả năng tiếp nhận kích thích và trả lời kích thích của môi trường. Cái tính cảm ứng này nó nếu mà nhanh thì giúp sinh vật phản ứng mau lẹ trước các tác động của môi trường.
03:49
Speaker A
Cho nên là so với thực vật thì tính cảm ứng của thực vật là chậm hơn tính cảm ứng của động vật. Chúng ta chú ý rằng là động vật càng tiến hóa thì tính cảm ứng càng nhanh và chính xác.
05:13
Speaker A
Còn nếu mà tính cảm nếu mà thực vật thì tính cảm ứng rất chậm. Cho nên là theo logic về tính cảm ứng thì thực vật là rất chậm, đến động vật. Động vật bậc thấp thì chậm hơn động vật bậc cao. Như trong các loài động vật thì loài người là có tính cảm ứng là nhanh, chính xác và phức tạp nhất.
05:44
Speaker A
Rất nhanh nhạy. Bao nhiêu thứ ngôn ngữ ở trong con loài người. Không chỉ là tiếp nhận các kích thích của môi trường mà con người còn tạo ra các kích thích làm thay đổi mọi cái. Tính cảm ứng. Cho nên là các em biết rằng là cái phản xạ, cái cung phản xạ này là được thực hiện bởi ba thành phần, à bởi năm thành phần chứ, năm thành phần.
06:41
Speaker A
Đặc biệt là động vật có hệ thần kinh phát triển thì cung phản xạ rất rõ nét, chúng ta nhìn thấy đây. Động vật có hệ thần kinh phát triển thì cung phản xạ rất là rất là phát triển và chính xác. Ví dụ như ở người đây, ngón tay, dùng cái kim, đây là kích thích cái kim. Cái kim này này, nó đâm vào người, đâm vào đây. Kim đâm vào đây thì hệ cái cơ quan cảm giác là ở tay này phải tiếp nhận kích thích. Cái tế bào cảm giác ở đây phải tiếp nhận kích thích. Nó lan truyền xung thần kinh. Lan truyền đi về trung ương thần kinh là tủy sống. Kích thích này đưa về tủy sống. Tủy sống sẽ xử lý và trả lời kích thích đến cái cơ của ngón tay này, gây ra hiện tượng là co cơ, rụt tay.
08:32
Speaker A
Cho nên chúng ta là tiếp nhận được kích thích giúp chúng ta có phản ứng thích nghi với môi trường. Cho nên là thầy nói các em là khi các em là dùng búa, dùng búa để đóng đinh, đóng đinh. Đây là cái đinh nha, dùng búa đánh, đóng, đóng, không đóng, không may là búa đóng vào tay. Thì nhờ có tính cảm ứng mà chúng ta có cảm giác đau và chúng ta rụt tay lại, dừng hoạt động đóng.
10:30
Speaker A
Nếu không có tính cảm ứng thì chúng ta cứ đóng, đóng và nó đóng nó làm cho tay chúng ta có thể bị nát ra. Và lúc đó chúng ta bị tổn hại về sức khỏe, thậm chí là mất mạng. Cho nên chúng ta chỉ cần va một cái là tính cảm ứng nó báo ngay và dừng lại. Dừng lại. Cho nên cái việc đau đấy, đau là không có tội.
11:51
Speaker A
Mà cái phản ứng đau đấy là giúp cho não bộ chúng ta, giúp cho tủy sống chúng ta, giúp trung ương thần kinh chúng ta biết được cơ thể chúng ta đang gặp nạn để mà có phản ứng bảo vệ. Cho nếu mà dùng thuốc giảm đau một cách quá mức có thể làm mất cảm giác đau và đấy là gây hại. Gây hại các em nhé.
12:24
Speaker A
Thuốc giảm đau chỉ có tác dụng là làm cho đầu óc của chúng ta không biết được cái việc đau. Mặc dù sự đau vẫn hoành hành lên cơ thể chúng ta. Nhưng não bộ không biết. Ví dụ như chúng ta đau bụng, chúng ta đau quá, khó chịu quá chúng ta uống thuốc giảm đau. Uống thuốc giảm đau là làm cho não bộ chúng ta không biết được cái cảm giác đau này. Làm cho thần kinh chúng ta cảm thấy dễ chịu nhưng cái bụng này vẫn đau dữ dội. Nó vẫn tàn phá chúng ta đó.
13:47
Speaker A
Và khi đau đấy thì chúng ta sẽ biết để mà đưa đến bệnh viện mà mà cứu không nữa không mất cảm giác đau thì rất nguy hiểm. Đấy, cho nên là các em biết rằng là cái phản xạ, cái cung phản xạ này là được thực hiện bởi ba thành phần, à bởi năm thành phần chứ, năm thành phần. Đầu tiên đó là cơ quan cảm giác. Cơ quan cảm giác này có thể là mắt, có thể là mũi, có thể là tai, có thể là lưỡi, có thể là da, có thể là trong bụng, vân vân. Tức là cơ quan cảm giác hoặc là tế bào thụ cảm. Anh này sẽ tiếp nhận kích thích và truyền kích thích đến trung ương thần kinh. Trung ương này có thể nằm ở não bộ hoặc nằm ở tủy sống. Trung ương thần kinh này lại đến dây thần kinh. Dây thần kinh ly tâm hay còn gọi là dây thần kinh vận động. Và cơ quan thực hiện. Cái này trở thành một cái cung, cung. Từ đây đi về đây rồi đi vào đây thần kinh. Giống như vòng cung gọi là cung phản xạ.
15:52
Speaker A
Cung phản xạ. Và động vật bậc cao thì cái tính cảm ứng nó thực hiện theo thông qua cung phản xạ này. Động vật bậc cao nó thực hiện thông qua cung phản xạ như vậy. Đấy là cái khái niệm, khái quát về tính cảm ứng động vật và ở động vật bậc cao, động vật có hệ thần kinh thì có cung phản xạ. Không có hệ thần kinh này là không có cung phản xạ đâu các em này. Chỉ những động vật nào có hệ thần kinh mới có cung phản xạ.
16:58
Speaker A
Còn động vật bậc thấp, ví dụ động vật đơn bào bậc thấp, động vật đơn bào bậc thấp thì không có hệ thần kinh thì không có cung phản xạ, chúng ta chú ý là gì? Chỉ những loài có hệ thần kinh thì mới có cung phản xạ. Thì đấy là cái đặc điểm của các loài hệ thần kinh. Dù các loài động vật. Và buổi tới chúng ta sẽ nghiên cứu về hệ thần kinh dạng ống ở người một cách chi tiết hơn.
18:43
Speaker A
Chúng ta nghiên cứu về cái cảm ứng ở động vật có tổ chức thần kinh và không có tổ chức thần kinh. Đây là không có tổ chức thần kinh thì đấy là cái cảm ứng của động vật đơn bào. Và cảm ứng của động vật thần kinh là đa bào. Đây ta đây. Đây là động vật chưa có hệ thần kinh. Cơ thể của nó chỉ là một tế bào. Đó là động vật đơn bào.
19:10
Speaker A
Mà một tế bào thì đương nhiên là chưa có hệ thần kinh rồi. Mà chưa có hệ thần kinh thì tính cảm ứng của nó là rất đơn giản. Nó chỉ khá hơn thực vật một tí thôi. Khá hơn thực vật một tí. Anh này là nó có kích thích thì nó sẽ trả lời kích thích theo hướng co rút cái chất nguyên sinh này. Trả lời kích thích.
20:11
Speaker A
Còn anh thứ hai là anh hệ thần kinh. Tên này là thần kinh dạng lưới này. Rồi dạng chuỗi hạch này. Rồi dạng hạch này. Trong anh này thì thần kinh dạng lưới này là chưa có não bộ. Còn thần kinh dạng hạch này là bắt đầu có não bộ. Chuỗi hạch, chuỗi hạch này là có não bộ. Thần kinh hạch này là não bộ phát triển rồi. Côn trùng là não phát triển rồi.
20:39
Speaker A
Còn thần kinh dạng lưới, à dạng ống là rất phát triển. Dạng ống này là chỉ có ở các loài động vật có xương sống. Thì thần kinh dạng ống. Anh này có tấm thần kinh. Thần kinh dạng ống này là nó có tấm thần kinh. Cuộn lại thành các ống. Hệ thống dây thần kinh dày đặc. Có trung ương thần kinh rồi có ngoại vi. Cái này có não bộ này là cũng có trung ương thần kinh rồi đấy.
21:51
Speaker A
Khi nào động vật có não bộ thì bắt đầu đó là đánh dấu sự tiến hóa của hệ thần kinh. Và có não bộ là có trung ương thần kinh. Trung ương thần kinh như ở người này là gồm có hai nơi. Trung ương thần kinh nằm ở não bộ và trung ương thần kinh nằm ở tủy sống. Tủy sống này điều khiển chân và tay. Ở các em biết rằng là có những người khi trèo cây hoặc là khi rơi từ trên cao xuống thì có thể bị liệt người.
23:28
Speaker A
Bởi vì khi rơi từ trên cao xuống là bị chấn thương cột sống này. Làm cho tủy sống này bị chấn thương. Mà khi tủy sống này bị chấn thương thì người đó sẽ mất khả năng cử động chân tay. Mặc dù vẫn có thể nói được. Nói là do não bộ điều khiển nhưng mà cử động chân tay này này là do tủy sống. Cho nên các em biết rằng là những người phụ nữ mà lúc sinh con bằng đẻ mổ, phẫu thuật á, người ta phẫu thuật để để để mổ lấy con á, thì người ta phải chọc tủy sống. Người ta phải gây tê tủy sống này. Tiêm thuốc tê vào tủy sống. Làm cho tay và chân là bị gì? Bị bất động, đặc biệt là chân, chân bất động. Cho nên muốn mổ gì mổ, người không quỳ quằn, không đau, không thể quặt quại được. Tê chân. Đấy.
25:14
Speaker A
Bởi vì nó khi chọc tủy sống này thì làm cho toàn bộ vùng thần kinh trung ương ở đây là bị phong tỏa hết, bị tê liệt. Và chân lúc đó người ta mổ ở bụng hay mổ ở chân hay bụng này thì nó xung thần kinh báo về trung ương thì trung ương bị phong tỏa. Trung ương thần kinh ở tủy sống bị phong tỏa thì lúc đó là là không có cảm giác đau. Cho nên là người ta phải chọc tủy, người ta phải gây tê tủy sống đối với những người đẻ mổ hoặc là những người phẫu thuật ở vùng bụng trở xuống. Và các em biết rằng là cái thần kinh này thì chúng ta nhìn thấy đây. Đây là thần kinh dạng lưới. Dạng lưới này là chưa có não bộ. Mà chưa có não bộ thì chưa có cung phản xạ. Cung phản xạ như lúc nãy ở phần một lớn thầy đã hướng dẫn các em là có phải có trung ương thần kinh.
25:54
Speaker A
Có trung ương thần kinh, ví dụ đây là có não bộ. Có não bộ thì anh này là bắt đầu hình thành cái đầu hóa, bắt đầu có đầu. Và đây là một loài là con đỉa đây. Loài này là nó có não bộ thì nó bắt đầu hình thành phản xạ. Hình thành cung phản xạ và phản xạ này là phản xạ không điều kiện, phản xạ bẩm sinh. Các loài thủy tức này, thủy tức đây. Nó bám lên một cái giá cây khô ở trong đáy hồ. Hoặc san hô. Hoặc là sứa. Thì sứa này là các loài này là thần kinh dạng lưới.
26:50
Speaker A
Dạng lưới đây. Dạng lưới đây. Dạng lưới này là là ở thủy tức, san hô rồi là sứa. Thì anh này là nó ở mức đơn giản. Khi có kích thích thì nó thường là co rúm lại. Nó co rúm lại. Chứ nó không có một phản ứng rõ ràng như chúng ta.
27:20
Speaker A
Còn anh này là thần kinh chuỗi hạch. Chuỗi hạch. Đây. Chuỗi hạch. Châu chấu, giun đất, bọ cạp, dế, thần kinh hạch. Đây là đã có đầu, có não bộ. Tất cả những anh có não bộ thì đều có phản xạ. Và hầu hết là phản xạ có không điều kiện, phản xạ không điều kiện.
28:26
Speaker A
Đấy. Như vậy chúng ta biết rằng là có ba cái có ba cái nhóm. Một nhóm là chưa có hệ thần kinh. Động vật đơn bào. Một nhóm là có hệ thần kinh dạng lưới, dạng chuỗi hạch, dạng hạch. Và một nhóm là có thần kinh dạng ống. Đó là các loài động vật có xương sống. Thì chúng ta biết rằng là cái sự tiến hóa của nó là hệ thần kinh càng phát triển bao nhiêu thì tính cảm ứng càng nhanh và chính xác bấy nhiêu. Và thể hiện thông qua các phản xạ.
29:05
Speaker A
Vậy ở đây thầy phân tách cho các em ra một là động vật chưa có hệ thần kinh. Động vật thầy viết tắt DV. Chưa có hệ thần kinh thì đương nhiên là chưa có phản xạ rồi. Mà anh này là cái phản ứng của nó là đơn giản do co rút chất nguyên sinh. Cơ thể trả lời kích thích với môi trường thông qua là co rút chất nguyên sinh. Chất nguyên sinh của tế bào. Và sự co rút chất nguyên sinh này sẽ giúp cho nó di chuyển. Nó di chuyển.
31:40
Speaker A
Anh thứ hai là anh động vật có hệ thần kinh dạng lưới. Anh dạng lưới này là là ở thủy tức, san hô rồi là sứa. Thì anh này là nó ở mức đơn giản. Khi có kích thích thì nó thường là co rúm lại. Có phản xạ là co lại. Và những anh này như là san hô là đứng một chỗ. Cho nên là đơn giản. Dạng thứ ba là là động vật có hệ thần kinh chuỗi hạch. Chuỗi hạch và hạch. Chuỗi hạch hạch này thì bắt đầu có cung phản xạ. Có phản xạ. Có phản xạ theo kiểu là tiếp nhận kích thích, đưa về trung ương, trung ương trả lời. Và có phản xạ mà chủ yếu là phản xạ không điều kiện. Hay còn gọi là phản xạ bẩm sinh. Sinh ra đã có. Ở người chúng ta các em ạ, ở người chúng ta thì có hai loại phản xạ là phản xạ có điều kiện là do học tập mà có. Và phản xạ không điều kiện.
34:00
Speaker A
Là sinh ra đã có. Ví dụ như một đứa trẻ sinh ra đã có cảm giác đau. Chích kim vào mông thì nó có cảm giác đau. Đây là phản xạ không điều kiện. Đấy. Hoặc là đói thì khóc đòi ăn, đấy là phản xạ không điều kiện. Lạnh thì kêu lạnh. Đấy, kêu. Co rúm lại, phản xạ không điều kiện. Cho nên là phản xạ không điều kiện là có ở động vật. Nhưng phản xạ có điều kiện thì phải có ở động vật bậc cao. Anh này chủ yếu là phản xạ không điều kiện. Có phản xạ nhưng phản xạ không điều kiện là chủ yếu. Còn phản xạ có điều kiện thì gần như không có. Rất ít, gần như không có. Gần như không có nhá. Đấy. Thì đấy là cái đặc điểm của của các loài hệ thần kinh. Hệ thần kinh dù các loài động vật có xương sống.
36:41
Speaker A
Ở các loài có xương sống này thì cái phản xạ của nó là có hai loại, không điều kiện và có điều kiện. Trong đó những loài như thú thì cái lượng phản xạ có điều kiện là nhiều. Còn cái anh bậc thấp, ví dụ như là cá thì phản xạ có điều kiện rất ít. Mà chủ yếu là không điều kiện. Chủ yếu không điều kiện mà có điều kiện rất ít. Đấy, cho nên là cái phản xạ này là có hai loại là phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện. Hay còn gọi là phản xạ học tập. Trong quá trình sống của cơ thể nó tiếp nhận các cái kinh nghiệm và gọi là có điều kiện. Thì phản xạ có điều kiện này là tập trung nhiều ở các loài động vật bậc cao. Còn ở các loài động vật bậc thấp như hạch, chuỗi hạch thì gần như là là không điều kiện thôi. Không điều kiện là chủ yếu, còn có điều kiện có hay không thì thầy cũng không dám khẳng định. Bởi vì có thể có thể đâu đó có một số loài là hạch, chuỗi hạch là có thể có. Có thể có cũng không nên. Có thể có không nên. Cho nên thầy ghi một cái chung chung thế này. Đấy, chung chung thế này. Thì đấy là cái đặc điểm của của các loài hệ thần kinh. Dù các loài động vật.

Get More with the Söz AI App

Transcribe recordings, audio files, and YouTube videos — with AI summaries, speaker detection, and unlimited transcriptions.

Or transcribe another YouTube video here →